Bài học phát triển hàng hải từ những quốc gia không có biển
Chắc không ít người sẽ ngạc nhiên khi biết rằng Mông Cổ và một số quốc gia khác không hề có biển, không tiếp giáp biển nhưng lại sở hữu đội tàu biển hoạt động hiệu quả trên các tuyến hàng hải quốc tế. Thực tế này mang đến thêm sự gợi mở cho chúng ta trong việc thực hiện phát triển bền vững kinh tế biển, phát triển hàng hải mà Nghị quyết số 36/NQ - TW của Ban chấp hàng Trung ương Đảng đã đề ra.
Ảnh minh họa. Nguồn: Vietaviation Logistics Co,, Ltd.
Mông Cổ hiện thực hóa khát vọng đại dương từ trên lưng ngựa, vùng thảo nguyên tuyết trắng
Có một nghịch lý mang vẻ đẹp đầy kiêu hãnh nằm sâu trong lòng lục địa Á - Âu. Đó là Mông Cổ - đất nước của những cánh đồng thảo nguyên xanh bao la bất tận vào mùa hè và là vương quốc của tuyết trắng, của cái lạnh thấu xương khi mùa đông gõ cửa. Hàng thế kỷ qua, nói về quốc gia này là hình ảnh những vó ngựa phi dưới bầu trời xanh thẳm, là những đàn cừu di chuyển chậm rãi như những áng mây sà xuống đồng cỏ và là những túp lều Yurt (lều du mục) khói tỏa bảng lảng trong hoàng hôn. Người Mông Cổ thuộc lòng từng mạch nước ngầm trên cao nguyên, nhưng đại dương lại là điều gì đó vừa xa xôi, là một giấc mơ cháy bỏng.
Thế nhưng, với dòng máu mang khát vọng chinh phục của người Mông Cổ, những người năm xưa từ lưng ngựa thảo nguyên từng tạo nên một đế chế lục địa trải dài, mở ra các tuyến giao thương kết nối Đông - Tây có lẽ chưa bao giờ nguội tắt trong lòng hậu duệ của họ. Tư duy vượt giới hạn của một quốc gia nội địa dường như đang được người Mông Cổ hiện đại tiếp nối theo một cách đặc biệt. Nếu ai đó nghĩ rằng một quốc gia "bị khóa chặt trong đất liền" (land-locked country) sẽ cam chịu đứng ngoài lề của dòng chảy hàng hải toàn cầu, thì Cục Hàng hải Mông Cổ (Mongolia Maritime Administration) là lời khẳng định ngược lại.
Bởi giữa thủ đô Ulan Bato gió lộng và không hề có một giọt nước mặn của Mông Cổ, người Mông Cổ vẫn điều hành một "hạm đội" thương mại quốc tế. Bằng việc tham gia vào các tổ chức quốc tế về hàng hải và mở cơ sở đăng ký tàu biển tại Singapore từ năm 2003, Mông Cổ đã thiết lập một hệ thống cấp phép cho các chủ tàu nước ngoài theo hình thức "treo cờ thuận tiện" (FOC - Flag of Convenience). Con chữ "Mongolia" cùng hình ảnh quốc kỳ có biểu tượng Soyombo đã và đang kiêu hãnh rẽ sóng khắp các đại dương. Từ lưng ngựa thảo nguyên đến boong tàu của những con tàu viễn dương khổng lồ, đó là biểu tượng của một khát vọng vươn mình, phá vỡ mọi giới hạn địa lý để chạm vào mạch máu thịnh vượng của nhân loại.
Những con số biết nói và thực tế quản trị đại dương
Nhìn vào bức tranh hàng hải của quốc gia thảo nguyên này, người ta không khỏi kinh ngạc trước những số liệu thực tế. Trên giấy tờ pháp lý, hệ thống đăng ký của Mông Cổ ghi nhận một con số khổng lồ: Khoảng 4.000 lượt tàu biển từng đăng ký cờ của quốc gia này. Trong quản lý định kỳ, số lượng tàu Mông Cổ đang hoạt động thực tế trên biển dao động từ 200 đến 500 chiếc.
Bản chất của việc điều hành một cảng đăng ký mở từ xa như vậy cho thấy tư duy linh hoạt của một đất nước không có biển. Nhiều chủ tàu quốc tế đã lựa chọn treo cờ Mông Cổ như một giải pháp chiến lược nhằm tối ưu hóa chi phí vận hành, giảm thiểu các thủ tục hành chính ngặt nghèo và trong một số trường hợp đặc biệt của địa chính trị, đó còn là công cụ để lách qua các lệnh trừng phạt quốc tế phức tạp.
Dù dưới góc nhìn nào, những con số và thực tế ấy cũng chứng minh: Mông Cổ đã biến điểm yếu về địa lý của mình thành một không gian kinh tế, một công cụ tạo doanh thu và khẳng định chủ quyền pháp lý trên bản đồ hàng hải thế giới.
Hãng tàu MSC có trụ sở chính tại Thụy Sĩ. Ảnh Internet.
Bài học từ những "ốc đảo lục địa" khác
Mông Cổ không đơn độc trong hành trình tìm đường ra biển. Trên thế giới, các quốc gia nội địa đã biến những bất lợi thiên nhiên thành lợi thế nhân tạo một cách ngoạn mục bằng tư duy phi địa lý.
Nhìn sang Thụy Sĩ, quốc gia nằm ẩn mình giữa dãy núi Alps bảng lảng sương mờ. Dù không có một mét bờ biển nào nhưng Thụy Sĩ sở hữu đội tàu thương mại hùng hậu và là nơi đặt trụ sở của MSC - hiện là hãng vận tải container bằng tàu biển lớn nhất hành tinh. Họ làm điều đó bằng tư duy quản trị đỉnh cao và hệ thống luật pháp hàng hải hoàn thiện. Hay như Cộng hòa Séc đã tận dụng tối đa các dòng sông quốc tế và thuê dài hạn khu bến cảng tại Hamburg (Đức) để biến nơi này thành "cửa ngõ biển" riêng của mình.
Ngay cả Lào, cũng đang nỗ lực hiện thực hóa chiến lược chuyển từ một quốc gia không có đường bờ biển thành một quốc gia có kết nối với biển, thông qua hệ thống đường bộ và tương lai là đường sắt kết nối tới cảng Vũng Áng của Việt Nam. Và cả Bolivia - đất nước dẫu mất đi đường bờ biển sau những biến động lịch sử, họ vẫn duy trì một lực lượng hải quân tinh nhuệ trên hồ Titicaca như một sự nuôi dưỡng không ngừng nghỉ cho khát vọng đại dương.
Các dẫn chứng trên cho thấy điểm chung của những quốc gia này là không ngồi im để than thở về định mệnh địa lý. Họ hiểu rằng: Biển không chỉ là một ranh giới tự nhiên, biển là một không gian tư duy mở. Khi không có biển, họ mua "quyền tiếp cận biển", họ xây dựng "cảng cạn", "mượn bến, cho thuê cờ" để hòa vào dòng chảy thương mại thế giới. Khát vọng của họ mạnh mẽ đến mức có thể vượt qua mọi dãy núi cao và những rào cản khắc nghiệt nhất của lục địa.
Cảng biển Quy Nhơn, tỉnh Gia Lai. Ảnh Internet.
Tiếng gọi từ đại dương và cơ hội của Việt Nam
Nhìn những quốc gia không có biển phải chắt chiu từng cơ hội, nỗ lực và sáng tạo gấp nhiều lần để chạm tay vào sóng nước, chúng ta càng cần tự nhìn lại chính mình với một sự suy ngẫm sâu sắc.
Bởi đất nước Việt Nam chúng ta được tạo hóa, thiên nhiên ưu ái một đặc ân vĩ đại: Đường bờ biển dài hơn 3.260 km chạy dọc theo chiều dài đất nước như một mặt tiền lộng lẫy hướng thẳng ra Biển Đông - tuyến đường hàng hải huyết mạch bận rộn bậc nhất hành tinh. Chúng ta còn có những vịnh biển sâu tự nhiên mà bất kỳ quốc gia nào cũng phải khao khát như Cam Ranh, Vũng Tàu, Lạch Huyện; chúng ta có một vùng đặc quyền kinh tế rộng lớn giàu tài nguyên.
Không chỉ vậy, Việt Nam còn đang sở hữu một "mỏ vàng" vô giá khác: Lực lượng lao động trẻ, dồi dào, cần cù và mang sẵn dòng máu kiên cường của những cư dân miền biển có tài đi biển được truyền đời từ ngàn năm trước.
Thế nhưng, đôi khi sự giàu có của tài nguyên lại khiến con người có tâm lý dễ thỏa mãn, thiếu động lực, khát vọng khai phá, tận dụng tốt nhất tiềm năng tài nguyên. Trong khi những người Mông Cổ phải học cách yêu biển qua trang sách trước khi nhìn thấy đại dương thật sự, thì không ít nguồn lực của chúng ta lại chưa được khai phá xứng tầm. Nhiều nơi có lẽ vẫn chỉ nhìn biển như những bãi tắm nghỉ dưỡng hay nơi khai thác thủy sản nhỏ lẻ gần bờ.
Cớ gì một đất nước có "mặt tiền" hướng biển rộng mở như thế, sở hữu nội lực lao động mạnh mẽ như thế, lại chưa thể chiếm lĩnh vị thế dẫn dắt trong chuỗi logistics, vận tải biến và đóng tàu toàn cầu? Cớ gì chúng ta chưa có nhiều tập đoàn hàng hải hùng mạnh làm chủ các tuyến hải trình xuyên đại dương?
Đó không chỉ là một câu hỏi trăn trở về mặt kinh tế biển mà còn là tiếng gọi từ đại dương về cơ hội mang tính lịch sử, khát vọng vươn xa đại dương đối với thế hệ hôm nay.
Nghị quyết số 36-NQ/TW của Đảng là "kim chỉ nam" để chuyển hóa cấu trúc kinh tế biển, lấy biển làm động lực phát triển cốt lõi. Ảnh Internet.
Nghị quyết số 36 - NQ/TW và tư duy đưa Việt Nam thành quốc gia biển mạnh
Nhận thức sâu sắc được tầm vóc chiến lược đó, Đảng ta đã ban hành Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 (Nghị quyết số 36 - NQ/TW ngày 22/10/2018 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII). Đây không đơn thuần là một văn kiện chính sách, đó là lời hịch khơi dậy khát vọng đại dương của dân tộc, là kim chỉ nam để chuyển hóa cấu trúc kinh tế Việt Nam từ "đất liền hướng ra biển" sang "lấy biển làm động lực phát triển cốt lõi".
Nghị quyết 36 đã vạch rõ tầm nhìn: Phải đưa Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh, phát triển bền vững, thịnh vượng, an ninh và an toàn. Trong đó, kinh tế biển phải là một hệ sinh thái đồng bộ: Từ phát triển hệ thống cảng biển đẳng cấp quốc tế, dịch vụ logistics hiện đại, công nghiệp đóng tàu, khai thác dầu khí và năng lượng tái tạo (như điện gió ngoài khơi), cho đến du lịch biển đảo cao cấp và bảo tồn nguồn lợi hải sản.
Để hiện thực hóa tầm nhìn thế kỷ này, chìa khóa cốt lõi chính là con người và tư duy quản trị. Lực lượng lao động dồi dào của Việt Nam cần phải được chuyển hóa, nâng tầm trở thành những kỹ sư hàng hải trình độ cao, những chuyên gia logistics quốc tế, những thuyền trưởng viễn dương đủ năng lực điều hành các siêu tàu lớn nhất thế giới. Chúng ta cần một tư duy mở, một thể chế thông thoáng để thu hút dòng vốn toàn cầu, biến các cảng biển của Việt Nam thành những "trạm trung chuyển" không thể thay thế trên bản đồ hàng hải quốc tế.
Thay lời kết
Vó ngựa của các chiến binh thảo nguyên năm xưa dẫu có nhanh, có dũng mãnh đến đâu cũng phải dừng lại trước bờ đại dương bạt ngàn. Nhưng con tàu mang cờ Mông Cổ ngày nay hay khát vọng của người Thụy Sĩ thì không có giới hạn. Những quốc gia không có biển đã dạy cho thế giới một bài học sâu sắc: Địa lý có thể là một định mệnh, nhưng tư duy và khát vọng mới là thứ quyết định tầm vóc của một dân tộc.
Việt Nam không bị bao vây bởi đất liền hay tuyết trắng mịt mù, trước mặt chúng ta là trùng khơi sóng vỗ, là chân trời lộng gió đầy cơ hội. Khi khát vọng của những quốc gia "bị khóa trong lục địa" còn có thể vượt núi ra khơi và tạo nên những kỳ tích trên giấy tờ lẫn thực địa, thì không có lý do gì để một Việt Nam có biển lại không thể bay cao. Đã đến lúc chúng ta phải nhìn biển bằng tầm nhìn của đại dương, hành động bằng sức mạnh của những con sóng dữ, để đưa con tàu Việt Nam kiêu hãnh tiến thẳng vào kỷ nguyên giàu mạnh và thịnh vượng từ biển sâu.
Nguồn: TapChiXayDung